Gia cố "nền" chuỗi giá trị cho rau quả Việt Nam

2026-03-18 15:39:40

Cùng với việc mở rộng thị trường, ngành rau quả Việt Nam đang củng cố những nền tảng quan trọng như truy xuất nguồn gốc, quản lý mã số vùng trồng, phát triển chế biến sâu và vùng nguyên liệu.

Sản phẩm bưởi da xanh sau khi rửa sạch sẽ được bảo quản khô trước khi đóng gói xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Sản phẩm bưởi da xanh sau khi rửa sạch sẽ được bảo quản khô trước khi đóng gói xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Xuất khẩu rau quả Việt Nam khởi đầu năm 2026 với đà tăng trưởng tích cực. Song song với mở rộng thị trường, ngành đang củng cố những nền tảng quan trọng như truy xuất nguồn gốc, quản lý mã số vùng trồng, phát triển chế biến sâu và vùng nguyên liệu.

Đây được xem là động lực để rau quả Việt Nam vượt qua các rào cản kỹ thuật khắt khe, thiết lập dấu mốc mới và tiến gần mục tiêu kim ngạch 10 tỷ USD.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong hai tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam đạt khoảng 1,09 tỷ USD, tăng 59,5% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm khoảng 58,3% tổng giá trị xuất khẩu. Hai thị trường quan trọng tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc với tỷ trọng lần lượt 7,5% và 3,9%.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tại nhiều thị trường lớn đều ở mức cao. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu rau quả sang Trung Quốc trong tháng 1/2026 tăng hơn 2 lần; xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng trên 56% và Hàn Quốc tăng gần 36%. Kết quả này cho thấy nhu cầu thị trường quốc tế đối với rau quả Việt Nam vẫn duy trì tích cực, bất chấp những biến động của thương mại toàn cầu.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng bên cạnh sự gia tăng về quy mô, chất lượng và mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế của rau quả Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt. Việc quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đang ngày càng đi vào nền nếp, giúp nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Nhờ đó, số lô hàng bị cảnh báo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại các thị trường khó tính như Trung Quốc, Hoa Kỳ hay Hàn Quốc đã giảm đáng kể trong thời gian gần đây. Điều này không chỉ giúp giảm rủi ro trong thương mại mà còn góp phần củng cố uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Một điểm tích cực khác là tỷ trọng sản phẩm rau quả chế biến đang có xu hướng gia tăng.

Theo báo cáo của một số tổ chức nghiên cứu thị trường, các sản phẩm như trái cây sấy, đông lạnh, nước ép… đã tăng trưởng trên 15% so với năm 2021.

Việc phát triển mạnh các dòng sản phẩm chế biến sâu giúp ngành rau quả từng bước giảm phụ thuộc vào xuất khẩu tươi, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với biến động của thị trường.

Về mặt hàng xuất khẩu, sầu riêng tiếp tục được đánh giá là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của ngành rau quả.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, sản lượng sầu riêng của Việt Nam dự kiến tăng khoảng 10-12% trong năm nay. Điều đáng chú ý không chỉ là giá trị xuất khẩu tăng mạnh, mà còn là sự thay đổi trong cách doanh nghiệp tiếp cận thị trường.

Bên cạnh quả tươi, nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chế biến như sầu riêng đông lạnh, tách múi, nghiền… sang các thị trường yêu cầu cao như Nhật Bản và Hoa Kỳ. Xu hướng này giúp mở rộng không gian thị trường cho mặt hàng sầu riêng, đồng thời giảm áp lực tiêu thụ theo mùa vụ.

Song song với sầu riêng, dừa cũng đang nổi lên như một trong những mặt hàng có nhiều tiềm năng phát triển trong xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Vina T&T Group, dừa được xem là “trái cây của tương lai” khi cây trồng này có khả năng thích ứng tốt với biến đổi khí hậu, dễ bảo quản và thời gian bảo quản có thể lên tới khoảng 80 ngày, thuận lợi cho việc vận chuyển đến các thị trường xa. Ở góc độ kinh tế, cây dừa là loại cây trồng có tính bền vững cao, rất phù hợp với nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn khi toàn bộ cây dừa đều mang lại giá trị, không bỏ thứ gì ra môi trường.

ttxvn-truy-xuat-nguon-goc-nong-san-viet.jpg
Truy xuất nguồn gốc sản xuất. (Ảnh: Giang Phương/TTXVN)

Hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam và trước mắt lựa chọn sầu riêng là mặt hàng thí điểm. Hiện việc triển khai truy xuất nguồn gốc sầu riêng đang trong giai đoạn thử nghiệm, với sự tham gia bước đầu của một số doanh nghiệp và địa phương.

Dù mới ở giai đoạn đầu, song đây được coi là bước đi quan trọng nhằm hình thành chuỗi dữ liệu minh bạch, kết nối từ khâu sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói đến xuất khẩu. Khi hệ thống này được hoàn thiện, không chỉ sầu riêng mà nhiều mặt hàng rau quả khác của Việt Nam cũng có thể tận dụng nền tảng dữ liệu để đáp ứng tốt hơn yêu cầu truy xuất nguồn gốc từ các thị trường nhập khẩu.

Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nafoods Group, chìa khóa để nâng cao giá trị cho ngành rau quả nằm ở việc xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh và đẩy mạnh chế biến sâu.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ cách đây khoảng 15 năm, Việt Nam gần như chưa có tên trên bản đồ chanh leo thế giới. Tuy nhiên đến nay, Tây Nguyên đã trở thành vùng sản xuất chanh leo tím lớn hàng đầu thế giới.

Thị trường nông sản hiện nay đã thay đổi căn bản. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam cho rằng nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là sản lượng và giá cả, thì hiện nay các yêu cầu về phát triển xanh, bền vững, giảm phát thải và tiêu chuẩn môi trường đang ngày càng được coi trọng.

Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, các rào cản kỹ thuật và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc từ các thị trường lớn sẽ tiếp tục được siết chặt. Do đó, các doanh nghiệp cần tuân thủ chặt chẽ các quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và hồ sơ pháp lý, đặc biệt đối với các thị trường lớn như Trung Quốc. Việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu truy xuất nguồn gốc sẽ là điều kiện tiên quyết để duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Thứ trưởng Trần Thanh Nam cũng nhấn mạnh để phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu bền vững, yếu tố cốt lõi vẫn là xây dựng và bảo vệ vùng nguyên liệu ổn định, bảo đảm chất lượng. Các địa phương cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong phát triển vùng nguyên liệu, từ đó bảo đảm nguồn cung dài hạn cho chế biến và xuất khẩu./.

Theo TTXVN /Vietnam+