Thúc đẩy liên kết viện, trường, doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ

2026-10-26 10:23:26
Sáng 23/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ. Hội nghị tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các Bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.

Tham dự tại điểm cầu tỉnh Nghệ An có đồng chí Thái Văn Thành - Tỉnh uỷ viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cùng lãnh đạo các Sở, ngành, các trường Đại học, VCCI Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Trị, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Nghệ An.

Anh-tin-bai

Quang cảnh tại điểm cầu tỉnh Nghệ An

Nhận diện 07 điểm nghẽn cần tháo gỡ để nâng cao hiệu quả thực thi

Theo báo cáo tại Hội nghị, việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong hệ thống chính sách, mở rộng quyền chủ động và nguồn lực cho hợp tác. Tuy nhiên, bên cạnh một số mô hình thành công cụ thể, nhiều nhu cầu vẫn chưa trở thành đơn đặt hàng và kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa triệt để.

Giai đoạn 2021–2025, doanh nghiệp chủ trì 181/1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia, chiếm (12,5%). Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2026, Việt Nam xếp thứ 24 thế giới về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học và doanh nghiệp.

Nhiều mô hình hợp tác tiêu biểu như: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) phối hợp với Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội ứng dụng trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform, hay Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với các đơn vị chế tạo thành công 07 hệ thống thiết bị phụ cho tổ máy nhiệt điện than công suất đến khoảng 600 MW; Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long với Tập đoàn Lộc Trời; Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) đóng điện thành công máy biến áp 500 kV và tiếp tục hợp tác với Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai cuộn kháng bù ngang 500 kV với tổng kinh phí 82,49 tỷ đồng.

Các cơ chế mới đã mở rộng quyền chủ động, nguồn lực và khả năng chia sẻ rủi ro. Tuy nhiên, việc chuyển các quyền và công cụ này thành quyết định, nguồn lực thực tế và trách nhiệm cụ thể vẫn còn 07 nhóm điểm nghẽn.

Thứ nhất, nghiên cứu chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu ứng dụng và chưa gắn chặt với trách nhiệm tiếp nhận. Nhiều thỏa thuận dừng ở biên bản ghi nhớ, thiếu công việc, kinh phí, nhân lực và tiến độ cụ thể; doanh nghiệp nhỏ thiếu đơn vị tập hợp nhu cầu, bài toán lớn thiếu doanh nghiệp chủ trì tích hợp các kết quả thành sản phẩm hoàn chỉnh.

Thứ hai, nguồn lực chưa được kết nối liên tục để hoàn thiện công nghệ và đưa sản phẩm ra thị trường. Nhiều kết quả mới ở quy mô phòng thí nghiệm, thiếu dữ liệu vận hành, thiết kế sản xuất, hồ sơ tiêu chuẩn và chứng nhận. Vốn đối ứng hiện chủ yếu được theo dõi theo mức cam kết, chưa theo mức thực góp; vốn đối ứng chậm bố trí và thiếu phương án đầu tư tiếp nối làm gián đoạn thương mại hóa.

Thứ ba, quyền tự chủ chưa được thực hiện đầy đủ; tâm lý e ngại trách nhiệm và cách xử lý rủi ro còn cản trở hợp tác. Việc vận dụng điều kiện chấp nhận rủi ro nghiên cứu, phân biệt với vi phạm trách nhiệm và cụ thể hóa trong hồ sơ, hợp đồng còn lúng túng.

Thứ tư, thiếu đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp và điều kiện khai thác hạ tầng dùng chung thuận tiện. Hoạt động kết nối có nơi thiên về giới thiệu, chưa hỗ trợ đến giao dịch, nên số giao dịch thành công còn khiêm tốn so với quy mô công nghệ chào bán. Một số phòng thí nghiệm thiếu quy chế chia sẻ, dùng chung.

Thứ năm, động lực chuyển giao của viện, trường và năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu. Công sức hiệu chỉnh, xử lý lỗi, đào tạo, hỗ trợ vận hành của nhà khoa học chưa được ghi nhận tương xứng. Khác biệt về tiến độ, công bố, bảo mật và quyền khai thác chưa được thống nhất từ đầu cũng hạn chế hợp tác lâu dài.

Thứ sáu, sản phẩm mới khó tiếp cận khách hàng đầu tiên; việc theo dõi hiệu quả ứng dụng chưa thường xuyên. Sản phẩm từ nghiên cứu thường thiếu dữ liệu vận hành, khách hàng tham chiếu và dịch vụ sau bán hàng. Sau nghiệm thu, thiếu theo dõi doanh thu, năng suất, chi phí và năng lực công nghệ để có căn cứ hỗ trợ, nhân rộng.

Thứ bảy, cơ chế phân bổ nguồn lực chưa gắn với điều kiện và kết quả hợp tác. Nguồn lực được phân bổ trực tiếp cho từng chủ thể, chưa gắn với điều kiện hợp tác; kết quả liên kết chủ yếu được đánh giá bằng số nhiệm vụ, số biên bản ghi nhớ, chưa được đo bằng kinh phí thực góp, doanh thu, giá trị chuyển giao và mức độ ứng dụng.

Các điểm nghẽn này đòi hỏi vừa nâng cao năng lực, trách nhiệm thực thi, vừa tiếp tục xử lý những quy định chưa phù hợp. Quyền chủ động cần được thực hiện bằng quyết định cụ thể; hỗ trợ của Nhà nước cần gắn với nguồn lực doanh nghiệp và kết quả sử dụng công nghệ.

Tại hội nghị, các đại biểu cũng đã chia sẻ kinh nghiệm, mô hình hợp tác trong phát triển công nghệ, nâng cao giá trị nông sản, thương mại hóa dược liệu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất. Qua đó, góp phần làm rõ cách thức kết nối hiệu quả giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Một nội dung trọng tâm của hội nghị là phiên trao đổi, giải đáp do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân điều hành tập trung vào 05 nhóm vấn đề gồm: Doanh nghiệp tham gia xác định và đặt hàng nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ; cơ chế Nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư, chia sẻ rủi ro; kết nối doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức nghiên cứu phù hợp; sở hữu trí tuệ, tài sản, quyền và lợi ích của các bên; thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đưa công nghệ và sản phẩm ra thị trường.

Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu xác định nhu cầu nghiên cứu, đồng thời tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng được tiếp tục hoàn thiện, chuyển giao và phát triển thành sản phẩm thương mại.

Thông qua hội nghị, các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp dự kiến xác định những nhiệm vụ, giải pháp cùng lộ trình triển khai cụ thể, nhằm đưa hoạt động nghiên cứu khoa học gắn chặt hơn với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và thị trường, góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ trong nước.

Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ nghiên cứu với nhu cầu doanh nghiệp

Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết là phải tháo gỡ các điểm nghẽn trong liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu cần phải bám sát thực tiễn, lấy nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp làm trung tâm.

Thời gian qua, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học dù được triển khai nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra, dẫn đến lãng phí. Các Bộ, ngành và địa phương cần định hướng danh mục bài toán công nghệ ưu tiên xuất phát từ chính năng lực và nhu cầu phát triển của ngành, địa phương mình. Mỗi bài toán đặt ra phải rõ mục tiêu, rõ sản phẩm dự kiến, đơn vị tiếp nhận và phương án huy động nguồn lực cụ thể.

Các viện nghiên cứu, trường đại học phải chủ động kết nối với doanh nghiệp; ngược lại, các doanh nghiệp cũng cần mạnh dạn, tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.

Theo Phó Thủ tướng Chính phủ, một trong những giải pháp trọng tâm là các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp phải khẩn trương xây dựng và vận hành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đủ mạnh. Nguồn vốn từ quỹ này sẽ là động lực tài chính hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và giải quyết các bài toán công nghệ lớn.

Nhà nước sẽ đóng vai trò đồng hành, hỗ trợ và chấp nhận rủi ro cùng doanh nghiệp trong các dự án nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ mới. Nếu dự án thất bại, Nhà nước sẽ chia sẻ mức độ rủi ro lớn hơn để khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo.

Tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ cũng quán triệt tinh thần chỉ đạo trong thời gian tới là nói phải đi đôi với làm, kiên quyết khắc phục tình trạng làm hình thức hoặc theo phong trào. Mọi hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phải được đo lường bằng sản phẩm thực tế, mang lại giá trị gia tăng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh cho doanh nghiệp…

https://nghean.gov.vn/tin-noi-bat/thuc-day-lien-ket-vien-truong-doanh-nghiep-trong-nghien-cuu-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-1070679

Kim Oanh